I. KHÁI QUÁT

Giống mía KK3, còn gọi là Khon Kaen 3, là giống mía có nguồn gốc từ Thái Lan, được lai tạo từ tổ hợp 85-2-352 × K84-200. Trong chương trình chọn tạo giống tại Thái Lan, dòng này mang mã 94-2-200; quá trình chọn tạo, khảo nghiệm và đánh giá được thực hiện trong giai đoạn 1995-2007 trước khi được công nhận và phát triển thành giống Khon Kaen 3 cho vùng Đông Bắc Thái Lan [1].

KK3 được Viện Nghiên cứu Mía đường của Việt Nam nhập nội từ Thái Lan vào năm 2010. Sau quá trình sơ tuyển và khảo nghiệm tại nhiều vùng sinh thái, giống được đưa vào khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng trong giai đoạn 2011-2016. Ngày 12/01/2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 135/QĐ-BNN-TT, công nhận KK3 có nguồn gốc từ Thái Lan cho sản xuất thử tại các vùng Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ [2], [3].

Kết quả khảo nghiệm ở Việt Nam cho thấy KK3 có tiềm năng năng suất cao, chữ đường khá đến cao, khả năng lưu gốc tốt, ít đổ ngã, không trổ cờ và có khả năng thích ứng tương đối rộng. Những đặc tính này đã làm KK3 nhanh chóng mở rộng từ một giống nhập nội thành một trong những giống mía chủ lực của Việt Nam [3], [4].

Đến năm 2024, KK3 đã chiếm khoảng 68,3% diện tích mía cả nước theo số liệu được công bố từ Hiệp hội Mía đường Việt Nam. Tỷ lệ này tăng rất mạnh so với khoảng 18,5% năm 2018, cho thấy sự chuyển dịch đặc biệt lớn của cơ cấu giống mía Việt Nam về phía KK3 [5].

II. TÊN GIỐNG VÀ NGUỒN GỐC

2.1. Tên giống

Tên chính thức được sử dụng trong các tài liệu nghiên cứu là Khon Kaen 3, thường viết tắt là KK3.

Trong một số tài liệu Việt Nam, tên giống được viết là Khonkaen 3 hoặc Khon Kaen 3. Đây là cùng một giống.

Trong chương trình chọn tạo giống tại Thái Lan, KK3 có mã dòng 94-2-200. Giống được hình thành từ phép lai: 85-2-352 × K84-200 [1].

2.2. Nguồn gốc chọn tạo

KK3 là giống được chọn tạo tại Thái Lan, với sự tham gia của Trung tâm Nghiên cứu Cây trồng Khon Kaen và các cơ quan nghiên cứu giống cây trồng thuộc Bộ Nông nghiệp Thái Lan. Tài liệu công bố năm 2011 xác định KK3 là giống lai giữa dòng 85-2-352 và giống K84-200, được chọn lọc trong chương trình từ năm 1995 đến năm 2007 [1].

Quá trình đánh giá tại Thái Lan gồm nhiều cấp khảo nghiệm, từ khảo nghiệm sơ bộ, khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm chuẩn đến khảo nghiệm trên đồng ruộng. Tổng cộng 35 điểm thí nghiệm được sử dụng để đánh giá năng suất và chất lượng của giống trước khi phát triển rộng rãi [1].

KK3 được phát triển chủ yếu cho vùng Đông Bắc Thái Lan, nơi có điều kiện khí hậu thường xuyên xuất hiện thời kỳ khô hạn và nhiều vùng đất có thành phần cơ giới nhẹ. Đây cũng là cơ sở để KK3 được quan tâm khi tìm kiếm giống có khả năng thích nghi với điều kiện khô hạn tại các vùng mía của Việt Nam [1], [2].

III. QUÁ TRÌNH NHẬP NỘI, KHẢO NGHIỆM, CÔNG NHẬN VÀ PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM

3.1. Nhập nội

Năm 2010, Viện Nghiên cứu Mía đường chính thức nhập nội giống KK3 từ Thái Lan vào Việt Nam. Các kết quả sơ tuyển ban đầu cho thấy KK3 có khối lượng cây khá lớn, tiềm năng năng suất khoảng 100-140 tấn/ha trong các điều kiện thích hợp và chữ đường khoảng 11-13% theo các khảo sát nhập nội ban đầu [2].

Một tài liệu kỹ thuật của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cũng xác nhận KK3 có nguồn gốc Thái Lan và được nhập nội vào Việt Nam năm 2010 [2].

3.2. Khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng

Sau nhập nội, KK3 được khảo nghiệm tại nhiều vùng sản xuất mía đại diện cho các điều kiện sinh thái khác nhau.

Trong giai đoạn 2011-2016, Viện Nghiên cứu Mía đường tiến hành khảo nghiệm KK3 tại: Nghệ An, Khánh Hòa, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Bến Tre, Hậu Giang. Kết quả cho thấy giống có khả năng thích nghi ở nhiều vùng mía khác nhau, là cơ sở để mở rộng phạm vi sản xuất thử [3].

3.3. Công nhận sản xuất thử

Ngày 12/01/2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 135/QĐ-BNN-TT, công nhận giống mía KK3 có nguồn gốc Thái Lan cho sản xuất thử tại các vùng: Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ.

Đây là mốc pháp lý quan trọng trong quá trình đưa KK3 từ giống nhập nội và khảo nghiệm sang sản xuất có tổ chức trên phạm vi nhiều vùng sinh thái của Việt Nam [3], [7].

3.4. Khảo nghiệm và sản xuất thử tại các vùng sinh thái

Tại Khánh Hòa, kết quả khảo nghiệm vụ mía tơ 11 tháng tuổi cho thấy KK3 đạt năng suất 67,33 tấn/ha và chữ đường 12,32%; năng suất quy đổi 10% chữ đường đạt 82,97 tấn/ha, cao hơn giống đối chứng K84-200 [2].

Tại Gia Lai, khảo nghiệm cơ bản cho thấy KK3 đạt năng suất 136,1-194,0 tấn/ha trong vụ mía tơ, với chữ đường 8,91-10,62%; vụ gốc I đạt 130,2-141,0 tấn/ha, chữ đường 9,74-10,57%. Trong khảo nghiệm sản xuất quy mô lớn, KK3 cùng một số giống triển vọng đạt 120,2-135,6 tấn/ha, chữ đường 9,03-10,32% [7].

Tại vùng Tây Nam Bộ, sản xuất thử trong giai đoạn 2017-2018 được thực hiện tại Long An, Bến Tre, Hậu Giang và Sóc Trăng. KK3 đạt năng suất thực thu 120,50-143,35 tấn/ha, chữ đường 11,16-12,35%; năng suất quy đổi 10% chữ đường đạt 150-162 tấn/ha/vụ, cao hơn giống đối chứng K84-200 từ 26,64-38,85% [4].

Một nghiên cứu cấp quốc gia về chọn tạo và phát triển giống mía thích hợp vùng Tây Nam Bộ, thực hiện trong giai đoạn 2013-2018, ghi nhận KK3 và LK92-11 là hai giống được tuyển chọn để công nhận chính thức giống cây trồng nông nghiệp mới; đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác riêng cho KK3 tại vùng này [2].

IV. THỰC TRẠNG TRỒNG KK3 TẠI VIỆT NAM

4.1. Vị trí của KK3 trong cơ cấu giống mía

KK3 hiện không còn là giống mới ở Việt Nam mà đã trở thành giống có vai trò đặc biệt lớn trong cơ cấu giống mía nguyên liệu.

Theo số liệu của Hiệp hội Mía đường Việt Nam được công bố cho năm 2024, KK3 chiếm khoảng 68,3% diện tích mía cả nước. Trong khi đó, năm 2018 KK3 mới chiếm khoảng 18,5% diện tích. Như vậy, chỉ trong khoảng sáu năm, tỷ trọng KK3 đã tăng gần 3,7 lần [5].

Sự thay đổi này cho thấy KK3 đã trở thành giống có mức độ phổ biến vượt xa phần lớn các giống mía truyền thống. Các giống từng giữ vai trò lớn như K95-84, ROC22 và Suphanburi 7 đều giảm mạnh về tỷ trọng trong cơ cấu giống [5].

4.2. Các vùng trồng KK3 quan trọng

KK3 hiện được trồng ở hầu hết các vùng mía lớn của Việt Nam.

a) Bắc Trung Bộ

Nghệ An là một trong những địa bàn thể hiện rõ sự phát triển của KK3. Công ty TNHH Mía đường Nghệ An (NASU) đã khảo nghiệm, đánh giá và phát triển KK3 tại vùng nguyên liệu Nghĩa Đàn. Các mô hình sản xuất tại Nghĩa Đàn ghi nhận năng suất khoảng 100 tấn/ha; một mô hình được Báo Nghệ An ghi nhận đạt 106 tấn/ha ở vụ đầu, 120 tấn/ha ở vụ thứ hai và khoảng 100 tấn/ha ở các vụ 3, 4, với chữ đường trên 10 CCS [7].

Tại Nghệ An, KK3 được đánh giá cùng với LK92-11 là nhóm giống mới có ưu thế về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu so với một số giống cũ.

b) Trung du và miền núi phía Bắc

Cao Bằng là một địa bàn đáng chú ý của KK3. Năm 2018, Trung tâm Khuyến nông và Giống nông lâm nghiệp tỉnh phối hợp với Công ty Cổ phần Mía đường Cao Bằng triển khai mô hình nhân giống KK3 tại huyện Phục Hòa. Mô hình ban đầu có 3 ha với 9 hộ tham gia; KK3 đạt mật độ cây hữu hiệu khoảng 8-9 cây/m² và năng suất ước khoảng 70 tấn/ha trong điều kiện mô hình [2].

Sau đó KK3 tiếp tục được đưa vào cơ cấu giống mới của vùng nguyên liệu Cao Bằng cùng với một số giống khác [11].

c) Nam Trung Bộ

Phú Yên là một trong những địa phương sớm triển khai mô hình KK3. Mô hình thâm canh năm 2015-2016 tại Tây Hòa trên diện tích 10 ha cho năng suất khoảng 79 tấn/ha [7].

KK3 cũng được nghiên cứu trong các hệ thống tưới tiết kiệm tại Phú Yên, cho thấy giống có thể phát huy tiềm năng ở những vùng khô hạn nếu được cung cấp nước hợp lý [2].

d) Tây Nguyên

Tây Nguyên là vùng có diện tích mía lớn và đặc trưng bởi nhiều vùng đất dốc, sản xuất phụ thuộc đáng kể vào lượng mưa. KK3 đã được khảo nghiệm và trồng tại Gia Lai, Đắk Lắk và một số địa bàn khác.

Các khảo nghiệm tại Gia Lai cho thấy KK3 có tiềm năng năng suất rất cao, đặc biệt trong điều kiện thâm canh [7].

e) Đông Nam Bộ

KK3 đã được đưa vào sản xuất thử tại vùng Đông Nam Bộ theo Quyết định số 135/QĐ-BNN-TT ngày 12/01/2017 [3]. Không nên dùng tài liệu về thuốc trừ cỏ để khẳng định rằng KK3 được trồng phổ biến tại toàn vùng Đông Nam Bộ.

 

f) Tây Nam Bộ

Long An, Bến Tre, Hậu Giang và Sóc Trăng là những địa phương đã có khảo nghiệm và sản xuất thử KK3 quy mô đáng kể. Đây là vùng đặc biệt quan trọng bởi KK3 thể hiện khả năng thích nghi với các điều kiện đất có nguy cơ úng, phèn và mặn nhẹ [4].

Kết quả sản xuất thử cho thấy KK3 vừa có năng suất cao vừa có khả năng lưu gốc tốt, ít đổ ngã và thích nghi tương đối rộng [4].

Trường hợp Nghệ An, đặc biệt là NASU, vì vậy nên được xem như một trường hợp thực tiễn quan trọng khi đánh giá KK3 tại Việt Nam: giống đã được khảo nghiệm trong điều kiện Bắc Trung Bộ, được tổ chức nhân giống và được đưa vào các mô hình sản xuất quy mô lớn. Tuy nhiên, các số liệu về diện tích và năng suất cần luôn ghi rõ địa bàn, niên vụ và quy mô mô hình để tránh suy rộng từ một mô hình sang toàn vùng.

NASU cũng công bố rằng trong chương trình khảo nghiệm phối hợp với Viện Nghiên cứu mía đường, giai đoạn 2011-2014 KK3 và LK92-11 thể hiện các đặc tính nông học tốt; từ năm 2015 NASU bắt đầu xây dựng ruộng nhân giống theo hệ thống nhân giống 3 cấp để nhân nhanh hai giống này [22]. Thông tin này củng cố nhận định rằng quá trình phát triển KK3 tại NASU dựa trên khảo nghiệm, chọn giống và chủ động nguồn giống sạch bệnh.

Một nguồn Báo Nhân Dân năm 2025 cho biết NASU đã triển khai KK3 tại các vùng nguyên liệu trọng điểm với diện tích 4.162 ha; nguồn này đồng thời ghi nhận năng suất khoảng 100 tấn/ha ở Nghĩa Đàn và đánh giá KK3 có khả năng chống chịu bệnh chồi cỏ trong điều kiện khảo nghiệm [21]. Do số liệu 4.162 ha được công bố ở thời điểm khác với số liệu diện tích mô hình tại Nghĩa Đàn, cần ghi rõ thời điểm khi sử dụng và không cộng gộp hai con số.

Theo Báo Nghệ An, tại huyện Nghĩa Đàn, diện tích KK3 được triển khai vào thời điểm năm 2024 khoảng gần 300 ha trong các mô hình được bài báo đề cập; một hộ điển hình ghi nhận năng suất 106 tấn/ha ở vụ đầu, 120 tấn/ha ở vụ thứ hai và khoảng 100 tấn/ha ở vụ 3, 4, với trữ lượng đường trên 10 CCS [9]. Đây là số liệu mô hình, không nên dùng như năng suất bình quân của toàn bộ diện tích KK3 tại Nghệ An.

Nghệ An là một trong những vùng sản xuất mía quan trọng của Bắc Trung Bộ, trong đó vùng nguyên liệu của Công ty TNHH Mía đường Nghệ An (NASU) có vai trò nổi bật. Báo Nghệ An cho biết NASU bắt đầu khảo nghiệm, so sánh và đánh giá KK3 từ năm 2011, tiến hành khảo nghiệm diện hẹp và diện rộng trong giai đoạn 2011-2014, xây dựng hệ thống nhân nhanh giống sạch bệnh 3 cấp từ năm 2015 và sau đó mở rộng sản xuất [9].

4.3. Nghệ An và vùng nguyên liệu NASU: trường hợp phát triển KK3 tiêu biểu

V. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ NÔNG HỌC

5.1. Đặc điểm thân

KK3 có thân tương đối to, hình thái thân phù hợp với mục đích sản xuất mía nguyên liệu. Đường kính thân trung bình được ghi nhận khoảng 2,7-2,8 cm trong nhiều khảo nghiệm [2], [11].

Trong một khảo nghiệm tại Thái Lan, KK3 có chiều cao trung bình khoảng 266 cm và đường kính thân khoảng 2,74 cm [11].

Khối lượng từng cây tương đối lớn, góp phần tạo năng suất cao ngay cả khi mật độ cây hữu hiệu không quá cao.

5.2. Khả năng đẻ nhánh

KK3 có sức đẻ nhánh khá tốt. Các tài liệu nhập nội ban đầu ghi nhận khoảng 6-7 cây/bụi [2]. Khả năng đẻ nhánh khá kết hợp với khả năng sinh trưởng nhanh giúp KK3 sớm hình thành tán lá và che phủ đất.

5.3. Khả năng giao tán

Một trong những ưu điểm được ghi nhận tại Thái Lan là KK3 có khả năng giao tán sớm. Tán lá phát triển tương đối nhanh, làm giảm khoảng thời gian đất trống sau trồng và qua đó có thể làm giảm sự cạnh tranh của cỏ dại [1].

Đây là đặc điểm có ý nghĩa trong điều kiện sản xuất quy mô lớn, đặc biệt khi chi phí lao động cho làm cỏ ngày càng tăng.

5.4. Khả năng lưu gốc

KK3 có khả năng lưu gốc tốt. Các khảo nghiệm ở Việt Nam cũng ghi nhận đặc tính lưu gốc tốt, là một trong những nguyên nhân làm giống được người trồng mía và doanh nghiệp nguyên liệu quan tâm [4], [7].

Khả năng lưu gốc tốt có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả kinh tế vì làm giảm chi phí giống, làm đất và trồng mới ở vụ gốc.

5.5. Khả năng đổ ngã

KK3 được đánh giá là giống ít đổ ngã hoặc chống đổ khá tốt. Đặc tính này đã được ghi nhận trong các khảo nghiệm tại Thái Lan và Việt Nam [1], [2], [4]. Đây là đặc điểm quan trọng đối với vùng có gió lớn, mưa tập trung hoặc điều kiện địa hình dễ gây đổ ngã.

5.6. Khả năng trổ cờ

KK3 có đặc tính không hoặc rất ít trổ cờ trong các điều kiện khảo nghiệm đã công bố. Nghiên cứu chọn tạo ban đầu tại Thái Lan ghi nhận giống không trổ cờ, nhờ đó khối lượng cây và chất lượng đường ít bị suy giảm do quá trình sinh sản hữu tính muộn vụ [1].

Các khảo nghiệm ở Việt Nam cũng ghi nhận KK3 không trổ cờ [4].

VI. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SINH THÁI HỌC

6.1. Phản ứng với nước

KK3 thuộc nhóm giống có khả năng chịu hạn tương đối tốt.

Các nghiên cứu sinh lý hiện đại tại Thái Lan xếp KK3 vào nhóm giống chịu hạn và sử dụng KK3 làm giống đối chứng chịu hạn trong nhiều thí nghiệm [7], [2].

Một nghiên cứu đánh giá sáu kiểu gen mía dưới ba chế độ nước cho thấy hạn làm giảm quang hợp, thoát hơi nước và khả năng sinh trưởng của mía nói chung; tuy nhiên KK3 duy trì năng suất mía và năng suất đường cao hơn đáng kể so với các kiểu gen còn lại trong điều kiện hạn [7].

Nghiên cứu kéo dài trên cả vụ mía tơ và vụ gốc cũng cho thấy KK3 duy trì hoạt động quang hợp tương đối tốt dưới điều kiện thiếu nước, thuộc nhóm kiểu gen có khả năng chịu hạn cao hơn [2].

Như vậy, đặc tính "chịu hạn" của KK3 không chỉ là nhận xét từ sản xuất mà đã được hỗ trợ bởi các nghiên cứu sinh lý thực vật.

6.2. Cơ chế thích nghi với hạn

Dưới điều kiện thiếu nước, KK3 có khả năng duy trì tương đối tốt hoạt động sinh lý của lá và phục hồi sau khi được cung cấp nước trở lại.

Các nghiên cứu trên KK3 cho thấy khi bị hạn, cây có những thay đổi về độ dẫn khí khổng, hiệu suất quang hợp, trạng thái nước của lá và các chất tham gia điều chỉnh áp suất thẩm thấu. Khả năng phục hồi sau tái tưới là một đặc điểm quan trọng góp phần giúp KK3 duy trì sinh khối và năng suất trong điều kiện hạn không quá nghiêm trọng [7], [17].

Tuy nhiên, cần phân biệt chịu hạn với không cần nước. KK3 vẫn cần nước trong các giai đoạn sinh trưởng quan trọng; hạn kéo dài và nghiêm trọng vẫn làm giảm sinh trưởng, số cây hữu hiệu và năng suất.

6.3. Khả năng thích nghi với đất

Tại Thái Lan, đất thịt pha cát được xác định là nhóm đất có tiềm năng phù hợp với KK3 [1].

Tại Việt Nam, KK3 đã thể hiện khả năng thích nghi trên nhiều nhóm đất khác nhau, từ đất khô hạn ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đến đất có nguy cơ úng, phèn và mặn nhẹ ở Tây Nam Bộ [4], [2], [7].

Khả năng thích nghi rộng là một trong những yếu tố quan trọng giải thích tốc độ mở rộng diện tích của KK3 tại Việt Nam.

6.4. Khả năng chịu úng, phèn và mặn nhẹ

Kết quả sản xuất thử tại Tây Nam Bộ ghi nhận KK3 có khả năng chịu ngập úng và điều kiện phèn, mặn tương đối tốt [4].

Tuy nhiên, không nên diễn giải đặc tính này thành "chịu được ngập kéo dài" hoặc "chịu mặn cao". Khả năng chịu úng và mặn của giống phụ thuộc vào thời gian, mức độ ngập, độ mặn, giai đoạn sinh trưởng, tính chất đất và chế độ dinh dưỡng.

Do đó, về mặt kỹ thuật nên mô tả KK3 là có khả năng thích nghi khá với điều kiện úng, phèn và mặn nhẹ, thay vì coi đây là giống chuyên chịu ngập hoặc chuyên chịu mặn.

VII. KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU SÂU, BỆNH

7.1. Bệnh than và bệnh thối đỏ

Tài liệu chọn tạo giống tại Thái Lan đánh giá KK3 có mức chống chịu trung bình đối với bệnh than và bệnh thối đỏ [1].

Do đó, không nên mô tả KK3 là giống "kháng hoàn toàn" các bệnh này.

7.2. Bệnh trắng lá

Tại Việt Nam, kết quả khảo nghiệm Gia Lai ghi nhận KK3 có thể nhiễm bệnh trắng lá nhưng mức nhiễm nhẹ [7].

Điều này cho thấy tính chống chịu bệnh của KK3 có tính phụ thuộc vùng sinh thái và điều kiện sản xuất. Một giống có biểu hiện bệnh nhẹ ở một vùng không có nghĩa là không thể nhiễm bệnh ở vùng khác.

7.3. Sâu hại

Các khảo nghiệm Tây Nam Bộ đánh giá KK3 có khả năng chống chịu sâu hại khá tốt [4]. Tuy nhiên, đây là đặc tính tương đối chứ không phải miễn nhiễm.

Trong sản xuất thực tế, KK3 vẫn cần được quản lý sâu đục thân và các đối tượng gây hại khác theo điều kiện từng vùng.

VIII. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ THỜI GIAN THU HOẠCH

KK3 thuộc nhóm giống chín trung bình sớm.

Tại Thái Lan, giống được đánh giá có thể duy trì khối lượng cây và chữ đường tương đối ổn định ngay cả khi thu hoạch muộn do không trổ cờ [1].

Trong điều kiện Việt Nam, thời gian sinh trưởng thường nằm khoảng 11-13 tháng tùy vùng sinh thái, thời vụ, điều kiện nước và mục tiêu sản xuất. Các nghiên cứu về động thái chín tại Tây Ninh ghi nhận giai đoạn thích hợp để đánh giá độ chín của KK3 khoảng 335-390 ngày [11].

Do đó, thời gian thu hoạch không nên quy định cứng một con số cho toàn quốc mà cần xác định theo vùng, thời vụ và diễn biến tích lũy đường.

IX. NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG ĐƯỜNG

9.1. Tiềm năng năng suất

KK3 thuộc nhóm giống có tiềm năng năng suất cao.

Trong quá trình chọn tạo tại Thái Lan, năng suất trung bình của 35 điểm khảo nghiệm đạt:

  • Vụ mía tơ: 18,1 tấn/rai;
  • Vụ gốc: 16,5 tấn/rai.

Quy đổi theo 1 rai ≈ 0,16 ha, tương ứng khoảng:

  • 113,1 tấn/ha vụ mía tơ;
  • 103,1 tấn/ha vụ gốc.

Mức này cao hơn giống đối chứng U-Thong 3 lần lượt khoảng 25% và 28% [1].

9.2. Kết quả khảo nghiệm tại Việt Nam

Kết quả tại các vùng khác nhau cho thấy năng suất KK3 có biên độ rất rộng.

Kết quả khảo nghiệm tại các vùng khác nhau cho thấy năng suất KK3 có biên độ rất rộng. Tại Khánh Hòa, trong khảo nghiệm sản xuất, KK3 đạt năng suất 67,33 tấn/ha và chữ đường 12,32%.

Tại Gia Lai, trong khảo nghiệm cơ bản, năng suất vụ mía tơ đạt 136,1-194,0 tấn/ha, với chữ đường 8,91-10,62%; ở vụ gốc I, năng suất đạt 130,2-141,0 tấn/ha, chữ đường 9,74-10,57%. Trong khảo nghiệm sản xuất tại Gia Lai, KK3 cùng một số giống triển vọng đạt năng suất 120,2-135,6 tấn/ha, với chữ đường 9,03-10,32%.

Tại Tây Nam Bộ, trong sản xuất thử, KK3 đạt năng suất thực thu 120,50-143,35 tấn/ha, chữ đường 11,16-12,35%; năng suất quy đổi theo 10% chữ đường đạt khoảng 150-162 tấn/ha/vụ. Tại các mô hình thâm canh ở Tây Nam Bộ, năng suất KK3 đạt khoảng 119-142 tấn/ha, với chữ đường 11,66-12,77%.

Tại Nghĩa Đàn, Nghệ An, các mô hình sản xuất ghi nhận năng suất khoảng 100 tấn/ha trong điều kiện thâm canh phù hợp.

Các số liệu trên cho thấy không có một con số năng suất cố định cho KK3. Năng suất thay đổi rất lớn theo đất, nước, thời vụ, mật độ, phân bón, tuổi thu hoạch và trình độ thâm canh [4], [2], [7], [2], [7].

9.3. Chữ đường

Chữ đường là một trong những ưu điểm quan trọng của KK3.

Tại Thái Lan, các khảo nghiệm ban đầu ghi nhận chữ đường khoảng 13-15% trong nhiều điều kiện [2]. Trong khảo nghiệm chính thức của Thái Lan, giá trị chữ đường thương mại trung bình của vụ tơ và vụ gốc được ghi nhận lần lượt khoảng 14,6 và 15,1; đây là chỉ tiêu được báo cáo trong đơn vị phần trăm chữ đường thương mại [1].

Tại Việt Nam, chữ đường thay đổi theo vùng:

  • Khánh Hòa: 12,32%;
  • Tây Nam Bộ: 11,16-12,35%;
  • các mô hình thâm canh Tây Nam Bộ: 11,66-12,77%;
  • Gia Lai: 8,91-10,62% trong khảo nghiệm cơ bản và 9,03-10,32% trong khảo nghiệm sản xuất [4], [2], [7], [2].

Sự khác biệt này cho thấy không thể lấy mức 14-15% của khảo nghiệm Thái Lan để khẳng định KK3 tại mọi vùng Việt Nam đều đạt 14-15% chữ đường.

X. NĂNG SUẤT ĐƯỜNG QUY ĐỔI

Trong sản xuất mía, chỉ tiêu quan trọng không chỉ là khối lượng mía mà còn là lượng đường thu hồi lý thuyết hoặc năng suất quy đổi theo một mức chữ đường chuẩn.

Tại Tây Nam Bộ, KK3 đạt năng suất quy đổi 10% chữ đường khoảng 150-162 tấn/ha/vụ, cao hơn giống đối chứng K84-200 từ 26,64-38,85% [4].

Điều này cho thấy ưu thế của KK3 không chỉ nằm ở khối lượng mía mà còn nằm ở sự kết hợp giữa năng suất cây và hàm lượng đường.

XI. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT

Năng suất KK3 hình thành từ sự kết hợp của nhiều yếu tố: Năng suất mía = số cây hữu hiệu × khối lượng trung bình cây.

Trong đó, KK3 có một số lợi thế nổi bật về đặc điểm sinh trưởng và cấu thành năng suất, bao gồm sức đẻ nhánh khá, mật độ cây hữu hiệu tương đối cao, thân tương đối to, khối lượng cây lớn, khả năng giao tán nhanh, ít đổ ngã và khả năng lưu gốc tốt.

Trong một khảo nghiệm tại Thái Lan, KK3 có chiều cao khoảng 266 cm, đường kính thân khoảng 2,74 cm và mật độ cây hữu hiệu khoảng 58.494 cây/ha trong một hệ thống khảo nghiệm tiêu chuẩn; năng suất trung bình đạt khoảng 80 tấn/ha và chữ đường 14,85% [11].

Các giá trị này cần được hiểu là kết quả của một thí nghiệm cụ thể, không phải trị số cố định của giống.

XII. KHẢ NĂNG LƯU GỐC VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ

Khả năng lưu gốc là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của KK3.

Một giống có năng suất cao ở vụ tơ nhưng suy giảm nhanh ở vụ gốc có thể không mang lại hiệu quả kinh tế cao. KK3 được đánh giá có khả năng lưu gốc tốt tại cả Thái Lan và Việt Nam [1], [4].

Khả năng lưu gốc tốt của KK3 mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và hiệu quả sản xuất, giúp giảm chi phí giống, giảm chi phí làm đất và chi phí trồng mới, đồng thời rút ngắn thời gian tái lập ruộng sau thu hoạch.

Việc tiếp tục khai thác hệ thống rễ đã hình thành cũng giúp cây sinh trưởng thuận lợi hơn ở các vụ gốc, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả đầu tư trong nhiều vụ sản xuất.

Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến KK3 được các doanh nghiệp mía đường ưu tiên mở rộng vùng nguyên liệu.

XIII. KHẢ NĂNG THÍCH HỢP VỚI CÁC HỆ THỐNG CANH TÁC

13.1. Sản xuất nhờ nước trời

KK3 có khả năng thích nghi tương đối tốt với điều kiện thiếu nước, vì vậy phù hợp với một số vùng sản xuất mía phụ thuộc nước trời.

Tuy nhiên, khả năng chịu hạn không đồng nghĩa với việc có thể bỏ qua quản lý nước. Nghiên cứu sinh lý cho thấy hạn vẫn làm giảm quang hợp và năng suất; ưu thế của KK3 là mức suy giảm có thể thấp hơn so với các giống mẫn cảm [7], [2].

13.2. Sản xuất có tưới

KK3 cũng đáp ứng tốt với điều kiện được cung cấp nước đầy đủ. Vì vậy, ở những vùng có hệ thống tưới chủ động, giống có thể phát huy tiềm năng năng suất cao hơn.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa tại các vùng khô hạn Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

13.3. Trồng trên đất dốc

KK3 đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu canh tác trên đất dốc tại Gia Lai và Đắk Lắk. Một nghiên cứu tại Việt Nam sử dụng KK3 làm vật liệu thí nghiệm trên đất dốc, với khoảng cách hàng 1,2 m và mật độ 5 hom/m [7].

Đặc tính sinh trưởng nhanh và khả năng che phủ đất sớm của KK3 có ý nghĩa trong việc hạn chế thời gian đất trống và giảm nguy cơ xói mòn khi kết hợp với biện pháp che phủ thích hợp.

XIV. YÊU CẦU KỸ THUẬT CANH TÁC CƠ BẢN

14.1. Thời vụ

Thời vụ cần căn cứ điều kiện khí hậu từng vùng.

Tại vùng Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, cần bố trí thời vụ để cây có đủ ẩm trong giai đoạn mọc mầm và đẻ nhánh, đồng thời tránh để giai đoạn tích lũy đường trùng với điều kiện mưa kéo dài.

14.2. Khoảng cách hàng

Tài liệu chọn tạo giống tại Thái Lan khuyến cáo khoảng cách hàng khoảng 1,0-1,5 m tùy điều kiện sản xuất [1].

Tại Việt Nam, khoảng cách giữa các hàng cần được điều chỉnh phù hợp với điều kiện canh tác thực tế, trong đó cần xem xét mức độ cơ giới hóa, khả năng đẻ nhánh của giống, đặc điểm đất đai, điều kiện cung cấp nước, lượng và phương thức bón phân, cũng như mục tiêu và phương thức thu hoạch.

Việc xác định khoảng cách hàng hợp lý cần bảo đảm sự cân đối giữa mật độ cây, khả năng sinh trưởng, mức độ giao tán, khả năng sử dụng dinh dưỡng và hiệu quả cơ giới hóa, từ đó góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.

14.3. Mật độ

Không nên áp dụng một mật độ cố định cho tất cả các vùng.

KK3 có khả năng đẻ nhánh khá, vì vậy việc tăng mật độ ban đầu quá cao có thể dẫn đến cạnh tranh nước, dinh dưỡng và ánh sáng trong giai đoạn sau.

Mật độ cần được xác định trên cơ sở số mắt mầm, tỷ lệ nảy mầm, khả năng đẻ nhánh và điều kiện đất đai.

14.4. Dinh dưỡng

KK3 có tiềm năng năng suất cao nên nhu cầu dinh dưỡng cũng lớn khi thâm canh.

Tuy nhiên, lượng và cơ cấu phân bón cần được xác định căn cứ vào năng suất mục tiêu, đặc điểm và độ phì của đất, kết quả phân tích đất, lượng dinh dưỡng được hoàn trả cho đất thông qua tàn dư lá và thân, lượng phân hữu cơ đã sử dụng, năng suất của vụ trước và tuổi của ruộng gốc. Việc điều chỉnh lượng phân theo các yếu tố này giúp đáp ứng đúng nhu cầu dinh dưỡng của cây, hạn chế bón thừa hoặc thiếu, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón và duy trì độ phì đất qua các vụ.

Không nên áp dụng một công thức phân bón duy nhất cho KK3 trên toàn quốc.

Các nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy đáp ứng phân đạm của KK3 thay đổi theo loại đất và vụ mía, đồng thời vụ gốc có thể có phản ứng khác vụ tơ [2].

XV. ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ

15.1. Ưu điểm

KK3 có các ưu điểm nổi bật:

  • Nguồn gốc giống rõ ràng, có lý lịch chọn tạo cụ thể.
  • Đã trải qua quá trình khảo nghiệm nhiều năm tại Thái Lan.
  • Đã được nhập nội và khảo nghiệm nhiều vùng sinh thái tại Việt Nam.
  • Đã được công nhận cho sản xuất thử tại nhiều vùng của Việt Nam.
  • Đã được công nhận chính thức để đưa vào sản xuất.
  • Tiềm năng năng suất cao.
  • Chữ đường khá đến cao.
  • Khả năng lưu gốc tốt.
  • Không trổ cờ hoặc rất ít trổ cờ.
  • Khả năng chống đổ khá.
  • Sức đẻ nhánh khá.
  • Giao tán tương đối nhanh.
  • Thích nghi tương đối rộng.
  • Chịu hạn tương đối tốt.
  • Có khả năng thích nghi với điều kiện úng, phèn và mặn nhẹ.
  • Được chứng minh khả năng thích nghi tại nhiều vùng sản xuất khác nhau của Việt Nam.
  • Đã trở thành giống có diện tích lớn nhất trong cơ cấu giống mía Việt Nam.

15.2. Hạn chế

KK3 không phải giống có khả năng chống chịu tuyệt đối với mọi điều kiện.

Một số hạn chế đã được ghi nhận:

  • Có thể nhiễm bệnh trắng lá, dù mức nhiễm được đánh giá nhẹ trong một số khảo nghiệm;
  • Khả năng chịu hạn là tương đối, không phải miễn nhiễm với hạn;
  • Năng suất và chữ đường biến động mạnh theo điều kiện đất, nước và thâm canh;
  • Trong một số vùng, chữ đường thực tế thấp hơn đáng kể so với mức 13-15% được ghi nhận ở một số khảo nghiệm tại Thái Lan;
  • Tiềm năng năng suất cao đòi hỏi điều kiện dinh dưỡng và nước tương ứng;
  • Khi diện tích một giống tăng quá lớn trên phạm vi quốc gia, nguy cơ đồng nhất di truyền và rủi ro dịch bệnh cũng cần được quan tâm trong chiến lược cơ cấu giống.

XVI. KK3 TRONG CƠ CẤU GIỐNG MÍA VIỆT NAM HIỆN NAY

Sự phát triển của KK3 tại Việt Nam là một trường hợp điển hình của quá trình thay đổi cơ cấu giống dựa trên hiệu quả sản xuất.

Năm 2018, KK3 mới chiếm khoảng 18,5% diện tích mía. Đến năm 2024, tỷ lệ này đã tăng lên khoảng 68,3% [5].

Trong cùng thời kỳ, các giống cũ như K95-84, ROC22 và Suphanburi 7 giảm mạnh về tỷ trọng [5].

Đặc biệt, cơ cấu vùng nguyên liệu mía Việt Nam hiện tập trung mạnh tại khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên. Trong niên vụ 2024-2025, khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên chiếm khoảng 61% sản lượng mía ép của cả nước, trở thành trung tâm sản xuất mía lớn nhất [5].

Do KK3 đã chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu giống quốc gia, việc tiếp tục sử dụng KK3 cần đi kèm với chiến lược quản lý giống, kiểm soát nguồn hom giống, vệ sinh đồng ruộng, quản lý bệnh và duy trì đa dạng giống để giảm rủi ro dịch hại trên quy mô lớn.

 

XVII. NHẬN ĐỊNH KHOA HỌC

Từ các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế có thể xác định KK3 là giống mía có tiềm năng năng suất cao, chữ đường khá đến cao, khả năng lưu gốc tốt, thích nghi rộng và khả năng chịu hạn tương đối tốt.

Điểm đặc biệt của KK3 không nằm ở một chỉ tiêu riêng lẻ mà ở sự kết hợp giữa nhiều đặc tính: năng suất cao + chữ đường khá + lưu gốc tốt + ít đổ ngã + không trổ cờ + chịu hạn tương đối + thích nghi rộng.

Đây là tổ hợp đặc tính có giá trị đặc biệt đối với sản xuất mía nguyên liệu phục vụ nhà máy đường.

Các nghiên cứu sinh lý hiện đại cũng củng cố nhận định rằng KK3 thuộc nhóm giống có khả năng duy trì hoạt động sinh lý và năng suất tương đối tốt trong điều kiện thiếu nước [7], [2], [17].

Tuy nhiên, cần tránh tuyệt đối hóa giống. Năng suất 120-140 tấn/ha hoặc cao hơn là tiềm năng trong những điều kiện khảo nghiệm và thâm canh cụ thể, không phải năng suất mặc định của mọi ruộng KK3.

Tương tự, chữ đường 13-15% là mức có thể đạt trong một số điều kiện, đặc biệt trong các khảo nghiệm tại Thái Lan, nhưng không thể sử dụng mức này làm giá trị cố định cho toàn bộ diện tích KK3 tại Việt Nam.

XVIII. KẾT LUẬN

Giống mía KK3, hay Khon Kaen 3, là giống mía có nguồn gốc Thái Lan, được lai tạo từ tổ hợp 85-2-352 × K84-200 và mang mã dòng 94-2-200 trong chương trình chọn tạo ban đầu. Giống được đánh giá qua nhiều cấp khảo nghiệm tại Thái Lan trong giai đoạn 1995-2007 trước khi phát triển thành giống thương mại [1].

KK3 được nhập nội chính thức vào Việt Nam năm 2010. Giai đoạn 2011-2016, giống được khảo nghiệm tại nhiều vùng mía của Việt Nam. Ngày 12/01/2017, giống được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất thử tại các vùng Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ theo Quyết định số 135/QĐ-BNN-TT [3].

Các kết quả khảo nghiệm và sản xuất thử tại Việt Nam chứng minh KK3 có khả năng thích nghi rộng, năng suất cao, chữ đường khá, lưu gốc tốt, ít đổ ngã, không trổ cờ và có khả năng chịu hạn tương đối. Đặc biệt, tại Tây Nam Bộ, giống đạt năng suất 120,50-143,35 tấn/ha và chữ đường 11,16-12,35% trong sản xuất thử [4].

Đến năm 2024, KK3 là giống có tỷ trọng diện tích lớn nhất trong cơ cấu giống mía Việt Nam, chiếm khoảng 68,3% tổng diện tích trồng mía theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Mía đường cho niên vụ 2024/2025 [5]. Không nên quy đổi con số này thành 124.649 ha nếu không đồng thời xác định rõ tổng diện tích làm mẫu số của cùng bộ số liệu.

Xét trên tổng thể, KK3 hiện có thể được xem là một trong những giống mía có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu giống mía nguyên liệu của Việt Nam. Sự phổ biến của giống phản ánh ưu thế thực tế về năng suất, chất lượng và khả năng thích nghi. Tuy nhiên, việc KK3 chiếm tỷ trọng rất lớn cũng đặt ra yêu cầu về quản lý nguồn giống, kiểm soát bệnh và duy trì cơ cấu giống đa dạng để bảo đảm tính ổn định và bền vững của ngành mía đường trong dài hạn.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Werapon Ponragdee, Taksina Sansayawichai, Peaingpen Sarawat, Tava Moulanon, Preecha Kapetch, Udom Leabwon (2011), “Khon Kaen 3 a Sugarcane Cultivar for the Northeast”, Thai Agricultural Research Journal, 29(3), 283-301. DOI: 10.14456/thaidoa-agres.2011.16. Mở tài liệu

[2] Cao Anh Dương (2011), Một số giống mía triển vọng mới nhập nội, Báo Nông nghiệp và môi trường. Mở tài liệu

[3] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017), Quyết định số 135/QĐ-BNN-TT ngày 12/01/2017 về việc công nhận giống mía KK3 có nguồn gốc từ Thái Lan cho sản xuất thử tại các vùng Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Mở tài liệu

[4] Lê Thị Thường, Võ Mạnh Hùng, Nguyễn Cương Quyết, Lê Quang Tuyền (2019), Kết quả sản xuất thử giống mía KK3 tại vùng Tây Nam Bộ, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, số 04(101), tr. 23-26. Mở tài liệu

[5] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2024), Ngành mía đường Việt Nam đang hồi sinh, lần đầu tiên năng suất đường vươn lên vị trí số 1 khu vực; nguồn số liệu cơ cấu giống: Hiệp hội Mía đường Việt Nam và Viện Nghiên cứu Mía đường. Mở tài liệu

[6] Lê Thị Thường, Nguyễn Thị Bạch Mai, Võ Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Cương Quyết (2016), Kết quả tuyển chọn giống mía chịu hạn tại Khánh Hòa, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, số 07(68), tr. 14-19. Mở tài liệu

[7] Phạm Tấn Hùng, Đỗ Cao Trí, Cao Anh Đương (2016), Kết quả khảo nghiệm một số giống mía mới tại Gia Lai, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, số 07(68), tr. 29-34. Mở tài liệu

[8] Lê Quang Tuyền và cộng sự (2021), Nghiên cứu chọn tạo giống mía chịu úng phèn, có năng suất và chất lượng cao cho vùng Tây Nam Bộ, Cổng thông tin điện tử Cục Thông tin, Thống kê. Mở tài liệu

[9] Báo Nghệ An (2024), “Giống mía KK3 đạt năng suất 100 tấn/ha trên đất Nghĩa Đàn”, 01/11/2024. Mở tài liệu

[10] Báo Cao Bằng (2018), Trung tâm Khuyến nông tỉnh: Triển khai trồng giống mía mới tại Phục Hòa, Báo Cao Bằng điện tử. Mở tài liệu

[11] Công Hải (2022), “Mía đường Cao Bằng khởi sắc”, Báo Nông nghiệp và Môi trường. Mở tài liệu

[12] Báo Nông nghiệp Việt Nam (2016), “Giống mía KK3 đạt 79 tấn/ha”, 02/01/2016. Mở tài liệu

[13] Báo Nông nghiệp Việt Nam (2020), “Phú Yên: Giải hạn cho cây mía” - mô hình tưới nhỏ giọt trồng KK3. Mở tài liệu

[14] Department of Agriculture Thailand (2023), Proceedings of Sugarcane Research and Development; số liệu khảo nghiệm hình thái và năng suất KK3. Mở tài liệu

[15] Nithaya Leanasawat, Manit Kosittrakun, Watanachai Lontom, Patcharin Songsri (2021), “Physiological and Agronomic Traits of Certain Sugarcane Genotypes Grown under Field Conditions as Influenced by Early Drought Stress”, Agronomy, 11(11), 2319. DOI: 10.3390/agronomy11112319. Mở tài liệu

[16] Amarawan Tippayawat, Sanun Jogloy, Nimitr Vorasoot, Patcharin Songsri, Collins A. Kimbeng, John L. Jifon, Anon Janket, Nuengsap Thangthong, Nakorn Jongrungklang (2023), “Differential Physiological Responses to Different Drought Durations among a Diverse Set of Sugarcane Genotypes”, Agronomy, 13(10), 2594. DOI: 10.3390/agronomy13102594. Mở tài liệu

[17] Nithaya Leanasawat, Watanachai Lontom, Patcharin Songsri, Manit Kosittrakun (2022), “Physiological Responses of Interspecific and Intergeneric Hybrids of Sugarcane under Early Drought Stress Conditions”, Asian Journal of Plant Sciences, 21(1), 49-55. Mở tài liệu

[18] Phạm Tấn Hùng, Phạm Hùng Vĩ, Cao Anh Đương (2016), Nghiên cứu động thái chín của một số giống mía trồng phổ biến trên vùng đất thấp tỉnh Tây Ninh, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, số 07(68), tr. 94-98. Mở tài liệu

[19] Nguyễn và cộng sự (2022), Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ đến sinh trưởng và năng suất giống mía KK3 trên đất dốc, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, số 07(140). Mở tài liệu

[20] Department of Agriculture Thailand (2021), Báo cáo nghiên cứu về đáp ứng phân bón và năng suất mía. Mở tài liệu

[21] Báo Nhân Dân (2025), thông tin về vùng nguyên liệu và việc triển khai giống KK3 tại Nghệ An/NASU; số liệu diện tích KK3 4.162 ha. Mở tài liệu

[22] NASU, Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ giúp NASU ổn định, phát triển vùng nguyên liệu mía; và Hiệu quả chuyển đổi giống mía. Mở tài liệu