Ghẻ đào là một căn bệnh do nấm Cladosporium carpophilum gây ra. Tác nhân gây bệnh có thể lây nhiễm vào cành, lá và quả, gây ra các tổn thương ảnh hưởng đến chất lượng quả, khả năng tiêu thụ và trong trường hợp nghiêm trọng có thể gây nứt quả và rụng quả sớm.
Ghẻ đào thường xuất hiện trong thời tiết ẩm ướt vì mưa bắn tung tóe bào tử (bào tử vô tính) từ nấm vào giữa lá, cành và quả trên tán cây, làm lây lan bệnh. Tác nhân gây bệnh này có thể lây nhiễm vào các loại quả và hạt khác trong loài Prunus , như hạnh nhân, mơ, xuân đào và mận.
Vì bào tử bệnh ghẻ đào trú đông trong các tổn thương nổi trên chồi và vỏ cây, việc tìm kiếm các triệu chứng trong quá trình cắt tỉa vào mùa đông có thể giúp xác định các lựa chọn quản lý bệnh. Nhiễm trùng ở các chồi non, xanh thường bắt đầu bằng các tổn thương nhỏ, hơi nổi, hình bầu dục hoặc hình tròn màu xám đỏ, có đường kính khoảng 0,08 in (2 mm). Khi chồi trưởng thành, các tổn thương mở rộng đến 0,1–0,3 in (3-8 mm) và phát triển các đường viền màu nâu sẫm
Vảy đào gây ra các tổn thương lõm trên vỏ quả. Khi áp lực bệnh cao, các tổn thương nhỏ trở nên dễ thấy trên quả xanh non. Khi quả chín, các tổn thương nhỏ này phát triển và bắt đầu sản sinh bào tử và bào tử. Các tổn thương lớn, sẫm màu có thể được tìm thấy trên quả chín.
Các tổn thương cũ hơn có màu xám đến ô liu, hình tròn và được xác định rõ. Ở giai đoạn này, các tổn thương có đường kính khoảng 0,70-0,2 in (2-5 mm) và một quầng màu vàng có thể bao quanh các tổn thương sẫm màu trên quả với màu ửng hồng đáng kể. Ở quả xuân đào, các tổn thương vảy đào có thể có màu xanh nhạt với tâm sẫm màu.
Không nên nhầm lẫn các tổn thương ghẻ đào với các vết ghẻ lồi thường do bệnh lỗ đạn ( Wilsonomyces carpophilus) gây ra. Các mép màu tím với tâm màu nâu nhạt giúp phân biệt các tổn thương lỗ đạn với các tổn thương do bệnh ghẻ đào gây ra.
Lớp tế bào bần bên dưới các tổn thương ghẻ đào không mở rộng khi quả phát triển. Điều này gây ra các vết nứt trên vỏ có thể lan vào thịt đào, tạo ra điểm xâm nhập cho các tác nhân gây bệnh thứ cấp như vi khuẩn thối quả hoặc ruồi giấm. Thông thường, ghẻ đào được tìm thấy xung quanh phần cuống của quả do thuốc phun thấm kém vào tán.
Đào dễ bị tổn thương nhất trong giai đoạn phát triển tách vỏ, trong khi đào dễ bị tổn thương nhất 1–2 tuần sau khi cánh hoa rụng. Mặc dù quả dễ bị tổn thương nhất ở giai đoạn phát triển sớm, nhưng việc quản lý bệnh là điều cần thiết từ khi đậu quả đến khi thu hoạch để ngăn ngừa tổn thương đáng kể cho vỏ.
Bệnh ghẻ đào có thể qua đông dưới dạng sợi nấm (phần dạng sợi của nấm) trong các tổn thương hoặc dưới dạng bào tử chlamydospore (cấu trúc lớn, có thành dày) trên mô thực vật hoặc trong vỏ của chồi 1 năm tuổi. Bào tử chlamydospore là nguồn chính của chất cấy trong vườn cây ăn quả.
Vào mùa xuân và mùa hè, bào tử con được tạo ra khi độ ẩm tương đối ít nhất là 100% trong 24 giờ và nhiệt độ vượt quá 60°F (16°C). Bào tử con (bào tử) được phát tán nhờ gió hoặc nước mưa bắn tung tóe. Chúng cũng có thể được phát tán qua các hệ thống tưới tiêu như hệ thống được sử dụng để bảo vệ khỏi sương giá trên cao vào đầu mùa xuân. Sự phát tán của gió tương đối nhỏ so với sự phát tán của mưa/nước tưới, phương tiện chính mà bào tử nấm được phát tán.
Trong mùa xuân có lượng mưa thường xuyên, nên rút ngắn khoảng cách phun thuốc và luân phiên sử dụng thuốc diệt nấm để tránh phát triển tình trạng kháng thuốc.
Việc lập kế hoạch trong giai đoạn thành lập vườn cây ăn quả nên bao gồm việc lựa chọn địa điểm thích hợp. Tránh những khu vực trũng thấp có lưu thông không khí và thoát nước đất kém. Việc triển khai chương trình giám sát dựa trên sự hiện diện của các tổn thương trên vỏ cây của quá trình sinh trưởng của những năm trước có thể giúp xác định khả năng nhiễm bệnh tương đối trong năm hiện tại.
Số lượng và kích thước tổn thương có thể được theo dõi trong khi cắt tỉa và tỉa quả. Hơn nữa, có thể giảm nguồn lây nhiễm bằng cách loại bỏ những cây ăn quả hạt hoang dã hoặc bị bỏ quên mọc gần đó.
Cho đến nay, không có giống nào có khả năng kháng bệnh ghẻ đào. Các biện pháp kiểm soát văn hóa chỉ giới hạn ở việc đảm bảo rằng các biện pháp cắt tỉa thích hợp giữ cho tán cây mở để tạo điều kiện cho thuốc diệt nấm phun vào.
Thuốc diệt nấm phải được phun ngay trước thời kỳ nhiễm trùng cao điểm để bảo vệ tối đa cho quả đang phát triển. Thời kỳ nhiễm trùng đầu tiên xảy ra khi cánh hoa rụng, sau đó là các thời kỳ nhiễm trùng bổ sung khi tách vỏ, tách vỏ và phun thuốc phủ khi quả đang phát triển.
Biên soạn: Thạc sĩ. Phan Anh Thế