Sâu đục thân cú mèo có tên khoa học là Sesamia inferens (Walker), là loài sâu hại đa thực, tấn công nhiều loại cây thuộc họ hòa thảo. Loài này ban đầu được Walker mô tả vào năm 1856 trong chi Leucania, sau đó được chuyển sang chi Sesamia (Hampson và cs., 1912).
Trứng
Trứng có dạng bán cầu, dẹt theo chiều lưng bụng và có các gờ tỏa tia. Trứng có chiều dài trung bình 0,616 ± 0,018 mm và chiều rộng trung bình 0,597 ± 0,012 mm.
Trứng mới đẻ có màu trắng kem. Sau 48 giờ, phần đầu của phôi bắt đầu xuất hiện rõ. Sau 72 giờ, trứng chuyển sang màu hồng nhạt và phần đầu màu xám của phôi hiện lên rõ rệt. Sau 96 giờ, màu hồng trở nên đậm hơn.
Sau 120 giờ ấp, trứng chuyển sang màu đen xám pha hồng và phần đầu màu đen của phôi có thể nhìn thấy rõ ràng. Sau đó, sâu non mới nở chui ra khỏi trứng. Thời gian ấp trứng trung bình là 6,82 ± 0,05 ngày. Tỷ lệ nở của trứng đạt 92,19 ± 0,01%.
Trứng được đẻ thành từng ổ, xếp thành 2 - 4 hàng dài. Con cái trưởng thành đẻ trứng ở mặt trong của ba bẹ lá đầu tiên, ưu tiên nhất là bẹ lá thứ nhất. Số lượng trứng trong mỗi ổ dao động từ 10 đến 102 trứng, trung bình đạt 53,69 ± 10,78 trứng. Mỗi con ngài cái có thể đẻ từ tới trên 400 quả trứng trong 5-6 ngày (nhiều nhất là 10 ngày).
Ấu trùng
Ấu trùng trải qua sáu tuổi sâu. Sâu non mới nở có màu kem với đầu màu đen. Màu hồng bắt đầu xuất hiện trên cơ thể từ tuổi 2 và đến tuổi 4 thì màu này trở nên rõ rệt. Bao đầu của sâu mới lột xác có màu vàng kem nhạt, sau đó dần chuyển sang nâu nhạt, nâu đậm và cuối cùng là đen xám.
Thời gian phát triển của các tuổi sâu I - VI lần lượt là:
- Tuổi 1: 4,17 ± 0,09 ngày
- Tuổi 2: 3,60 ± 0,08 ngày
- Tuổi 3: 4,47 ± 0,02 ngày
- Tuổi 4: 4,40 ± 0,03 ngày
- Tuổi 5: 6,18 ± 0,06 ngày
- Tuổi 6: 7,13 ± 0,05 ngày
Tổng thời gian phát triển của giai đoạn ấu trùng là 29,95 ± 0,16 ngày.
Chiều dài trung bình của các tuổi sâu I - VI lần lượt là:
- Tuổi 1: 2,10 ± 0,06 mm
- Tuổi 2: 4,34 ± 0,25 mm
- Tuổi 3: 8,83 ± 0,31 mm
- Tuổi 4: 14,50 ± 0,42 mm
- Tuổi 5: 20,83 ± 0,55 mm
- Tuổi 6: 27,17 ± 0,49 mm
Trên cây lúa: Sâu non mới nở tập trung phá mặt trong bẹ lá, sau tuổi 2-3 mới phát tán di chuyển phá hại cây kế cận, thường xâm nhập vào đốt thứ 3 - 4 thân lúa. Sau tuổi 4 - 5 sức ăn khỏe, sâu chui ra đục đốt khác hoặc thân khác. Là loài có sức ăn khoẻ nên chúng có thể di chuyển sang sang những cánh đồng kế cận để hoàn thành quá trình phát triển của chúng ngày cả khi lúa đã thu hoạch xong. Sâu non đục vào thân, cắt đứt đường vận chuyển dinh dưỡng gây chế đỉnh sinh trưởng hoặc bông bạc. Sâu non đẫy sức có thể hóa nhộng trong thân lúa hoặc ngoài bẹ lá, ngoài mình nhộng bọc bằng sợi xơ thân lúa.
Nhộng
Tiền nhộng dần chuyển thành nhộng màng kín. Nhộng đực có chiều dài 12,17 ± 0,22 mm và chiều rộng 3,15 ± 0,10 m. Nhộng cái có chiều dài 14,59 ± 0,28 mm và chiều rộng 4,01 ± 0,20 mm.
Nhộng đực có khối lượng 130,60 ± 4,30 mg, trong khi nhộng cái nặng 194,30 ± 8,30 mg. Các cấu trúc như mắt, râu, cánh trước và vùng bụng của cá thể trưởng thành tương lai có thể quan sát rõ trên nhộng.
Thời gian nhộng của con đực và con cái lần lượt là 8,05 ± 0,12 ngày và 10,33 ± 0,16 ngày. Vòng đời của Sesamia inferens hoàn thành trong 47,65 ± 0,24 ngày (dao động 39 - 54 ngày) ở con đực và 49,93 ± 0,21 ngày (dao động 40 - 56 ngày) ở con cái
Trưởng thành
Màu sắc của S. inferens thay đổi từ màu vàng rơm nhạt đến nâu trung bình (Hình 9). Con đực có kích thước cơ thể nhỏ hơn con cái.
Con đực có chiều dài cơ thể 12,50 ± 0,41 mm và chiều rộng 3,40 ± 0,11 mm (Bảng 4), khối lượng 107,78 ± 3,47 mg. Sải cánh đạt 21,41 ± 0,19 mm, chiều dài một cánh là 12,45 ± 0,23 mm.
Con cái có chiều dài cơ thể 15,55 ± 0,18 mm và chiều rộng 4,60 ± 0,13 mm, khối lượng 188,52 ± 10,53 mg. Con cái có sải cánh lớn hơn, đạt 31,00 ± 0,36 mm và chiều dài một cánh là 14,57 ± 0,19 mm.
Tuổi thọ trung bình của con đực là 3,92 ± 0,23 ngày và của con cái là 5,05 ± 0,28 ngày. Thời gian tiền giao phối của con đực là 1,11 ± 0,10 ngày. Thời gian đẻ trứng kéo dài 2,96 ± 0,19 ngày và thời gian sau đẻ trứng là 0,79 ± 0,10 ngày.
Hoạt động giao phối diễn ra mạnh nhất vào ban đêm, từ 21:00 đến 24:00 giờ và kéo dài khoảng 1 giờ. Con cái đẻ trứng ở mặt trong của các bẹ lá gốc thành 3 - 4 hàng không chồng lấp lên nhau.
Tỷ lệ vũ hóa trưởng thành đạt từ 91,67 - 95,65%, trung bình là 93,02 ± 0,01%. Tỷ lệ giới tính đực:cái dao động từ 1:1 đến 1:1,18, trung bình là 1:1,05.
Sức sinh sản dao động từ 152 - 286 trứng, trung bình đạt 211,92 ± 11,92 trứng mỗi con cái. Số lượng trứng được đẻ nhiều nhất vào ngày thứ hai sau khi vũ hóa.
Biện pháp phòng trừ
Có thể áp dụng công thức: Chlorfenapyr 10% + Emamectin benzoate 2% hoặc Chlorantraniliprole 16% + Indoxacarb 4%.
Biên soạn: Thạc sĩ. Phan Anh Thế
