Công ty TNHH Profesfar Việt Nam ×

Danh mục sản phẩm

Sâu đục thân 4 vạch đầu vàng - Chilo tumidicostalis

Nội dung [Hiện]
Sâu đục thân hại mía
Sâu đục thân hại mía
Tên khoa học: Chilo tumidicostalis
Tên Tiếng Việt Sâu đục thân 4 vạch đầu vàng, sâu đục thân mía

Đặc điểm hình thái, sinh học Sâu đục thân mía bốn vạch đầu nâu có 4 pha phát dục, ở điều kiện nhiệt độ trung bình 28,3oC và độ ẩm 85% sâu có vòng đời trung bình 61,3 ngày.

Trưởng thành cái đẻ trứng thành từng ổ, màu trắng sữa, mỗi ổ có 3 - 5 hàng xếp hơi chồng lên nhau giống hình vảy cá nằm ở bẹ lá hoặc mặt dưới phiến lá.

Các tuổi sâu đục thân 4 vạch đầu vàng (Ảnh Cục BVTV)
Các tuổi sâu đục thân 4 vạch đầu vàng (Ảnh Cục BVTV)

Sâu non gồm 5 tuổi, từ tuổi 3 trở đi, sâu bắt đầu xâm nhập vào lóng mía để gây hại nặng, chúng bắt đầu ăn các thịt mía gần vị trí chúng lột xác, sau đó di chuyển đến những nơi khác có thức ăn phù hợp.

1. Trứng

Trứng thường được đẻ trên mặt dưới của lá thành 3-4 hàng. Một con cái mang trứng đẻ trứng ở 3-4 ổ trứng khác nhau. Số trứng trung bình do con cái đẻ được tìm thấy là 410,64 ± 45,21. Trứng mới đẻ có màu trắng đục và khi trưởng thành, phần giữa của trứng bắt đầu chuyển sang màu đen.

Ấu trùng chui ra khỏi trứng bằng cách khoét một lỗ trên lớp vỏ trứng. Vỏ trứng rỗng vẫn dính vào lá sau khi nở. Không phải tất cả trứng trong ổ trứng đều nở, trong trường hợp đó, tỷ lệ nở được tính toán. Tỷ lệ nở được tìm thấy là 97,56 ± 0,90%.

Thời gian ủ bệnh dao động từ 6-8 ngày và giá trị trung bình là 7,05 ± 0,60 ngày. Kết quả hiện tại phù hợp với những phát hiện của Khanna et al. (1957) người đã phát hiện ra rằng thời gian ấp trứng dao động từ 8-11 ngày. Ông quan sát thấy quá trình nở diễn ra trong tối đa 3 ngày trong cùng một cụm, tuy nhiên, trong nghiên cứu hiện tại, quá trình nở diễn ra vào buổi sáng trong khoảng thời gian 2-3 giờ.

Theo Hoang et al. (2016), số lượng trứng trung bình dao động từ 27-370 trong mỗi lứa. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Rahman et al. (2013) cho thấy số lượng trứng mà con cái đẻ trong suốt đời nằm trong khoảng 500-800. Trong một nghiên cứu khác được thực hiện tại Thái Lan, con cái đẻ trung bình 287 trứng với thời gian ấp trứng trung bình là 4,6 ngày (Sallam và Allsopp, 2002).

2. Ấu trùng

Ấu trùng của C. tumidicostalis lột xác bốn lần và có năm giai đoạn ấu trùng. Tổng thời gian phát triển của ấu trùng dao động từ 19-28 ngày với trung bình là 24,05±3,14 ngày. Thời gian của ấu trùng giai đoạn đầu tiên dao động từ 2-4 ngày với trung bình là 3,20±0,52 ngày. Ấu trùng giai đoạn thứ hai mất 3-4 ngày và trung bình là 3,7±0,47 ngày. Ấu trùng giai đoạn thứ ba hoàn thành trong vòng 4-6 ngày với trung bình là 4,75±0,79 ngày. Ấu trùng giai đoạn thứ tư và thứ năm mất 5-7 ngày với trung bình lần lượt là 6,05±0,69 và 6,35±0,67 ngày. Sau khi hoàn thành giai đoạn thứ năm, ấu trùng trở nên chậm chạp, ngừng ăn và biến thành nhộng. Nhộng non cuối cùng biến thành nhộng

Kết quả nghiên cứu của Suasa-Ard (2000) phù hợp với nghiên cứu hiện tại, cho thấy tổng thời gian phát triển của ấu trùng khoảng 26 ngày ở Thái Lan và ấu trùng lột xác 5-7 lần trước khi hóa nhộng. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Rahman et al. (2013) cho biết thời gian phát triển của ấu trùng dao động từ 27-70 ngày ở Bangladesh.

Nghiên cứu do Khanna et al. (1957) thực hiện ở Bihar cho thấy tổng thời gian phát triển của ấu trùng có thể dao động từ 61-121 ngày. Lần lột xác thứ nhất, thứ hai và thứ ba diễn ra sau 3-5 ngày, trong khi lần lột xác thứ tư và thứ năm diễn ra trong 2-3 tuần hoặc thậm chí lâu hơn. Kết quả nghiên cứu của Hoang (2016) phù hợp với kết quả nghiên cứu hiện tại, cho thấy ấu trùng lột xác 5 lần với tổng thời gian phát triển từ 17-26 ngày ở Việt Nam.

3. Nhộng

Thời gian của giai đoạn nhộng khác nhau ở con đực và con cái. Con đực và con cái hoàn thành giai đoạn nhộng trong khoảng 6-9 ngày và 6-10 ngày, tương ứng. Thời gian trung bình của giai đoạn nhộng ở con đực và con cái lần lượt là 7,25±1,21 ngày và 8,1±1,37 ngày. Ban đầu, màu sắc của nhộng là màu vàng nhạt, sau đó chuyển sang màu đỏ nâu.

Nhộng của con đực và con cái thể hiện sự dị hình giới tính. Về kích thước, nhộng của con cái lớn hơn nhộng của con đực. Chiều dài (đo từ đầu đuôi đến đầu trước cùng; n=20) của nhộng con đực nằm trong khoảng 26,63-26,99 mm, chiều dài trung bình là 26,78±0,10 mm.

Trong khi đó, chiều dài nhộng cái được ghi nhận nằm trong khoảng từ 32,76 đến 32,98 mm và chiều dài trung bình là 32,85 ± 0,07 mm. Chiều rộng nhộng đực nằm trong khoảng từ 6,35 đến 6,43 mm và chiều rộng trung bình là 6,38 ± 0,02 mm. Chiều rộng nhộng cái nằm trong khoảng từ 7,94 đến 8,02 mm và chiều rộng trung bình là 7,97 ± 0,02 mm. Lỗ sinh dục của con đực và con cái lần lượt nằm ở đốt bụng thứ 8 và thứ 9; khoảng cách giữa các lỗ sinh dục khác nhau ở con đực và con cái (Bảng 2 và Hình 2). Ngoài ra, lỗ sinh dục ở con đực có dạng thùy tròn, trong khi ở con cái là lỗ dạng khe.

Ấu trùng hóa nhộng bên trong đường hầm được tạo ra do quá trình ăn trong cây mía. Trước khi hóa nhộng, ấu trùng tạo ra một lỗ nhỏ và che phủ bằng phân để tạo điều kiện cho con trưởng thành chui ra. Khi chạm vào, nhộng thể hiện chuyển động nhanh bằng cách xoay bụng.

Những phát hiện hiện tại phù hợp với nghiên cứu của Khanna et al. (1957), người đã quan sát thấy sự khác biệt rõ rệt giữa nhộng đực và nhộng cái. Ông quan sát thấy nhộng đực và nhộng cái có kích thước lần lượt là 10-12 mm và 15-17 mm. Họ nhận thấy thời gian phát triển trung bình của nhộng kéo dài khoảng 8-12 ngày trong tháng 9 đến tháng 10 và 18-26 ngày trong tháng Giêng đến tháng Hai. Rahman và cộng sự (2013) nhận thấy rằng thời gian nhộng trung bình dao động từ 7-15 ngày, có thể kéo dài đến 22 ngày trong thời tiết mát mẻ.

Những phát hiện của Suas-Ard (2000) ủng hộ những phát hiện hiện tại, người đã ghi nhận thời gian nhộng là 7,5 ngày. Hoang (2016) nhận thấy thời gian nhộng nằm trong khoảng từ 5-9 ngày.

4. Trưởng thành

Sự xuất hiện của con trưởng thành thường diễn ra vào ban đêm. Loài bướm này động mạnh nhất vào ban đêm,và ban ngày chúng không hoạt động nhiều.

Giao phối diễn ra vào ban đêm. Thời gian trước khi đẻ trứng của bướm đêm là dưới một ngày. Con cái mang trứng tiếp tục đẻ trứng trong 1-2 ngày, mỗi lần 3-4 ổ trứng. Sau khi đẻ trứng, con cái chết trong vòng 1-2 ngày. Tuổi thọ của con đực trưởng thành ngắn hơn con cái. Con đực trưởng thành sống được 3-5 ngày, trung bình là 3,90±0,64 ngày, và con cái trưởng thành sống được 3-6 ngày, trung bình là 4,80±0,77 ngày. Tỷ lệ giới tính của sâu đục thân Plassey là 1:1,24.

Con trưởng thành của sâu đục thân Plassey có sự khác biệt rõ rệt về kích thước, con đực nhỏ hơn con cái. Chiều dài (từ đầu đến đốt bụng cuối cùng, không kể mõm) của con đực dao động từ 11,5 đến 11,9 mm với chiều dài trung bình là 11,62±0,15 mm.

Trong khi đó, con cái lớn hơn, chiều dài dao động từ 12,3 đến 13,2 mm với chiều dài trung bình là 12,74±0,24 mm. Chiều rộng (từ đầu mút bên trái đến đầu mút bên phải của con bướm đang duỗi thẳng) của con bướm đực trưởng thành dao động từ 23,7 đến 25,4 mm với chiều rộng trung bình là 24,31±0,63 mm. Chiều rộng của con cái dao động từ 27,8 đến 29,7 mm với chiều rộng trung bình là 28,73±0,78 mm.

Chiều dài của con đực dao động từ 11,4 đến 11,9 mm với chiều dài trung bình là 11,62±0,15 mm. Chiều dài của bướm cái dao động từ 12,4 đến 13,2 mm với chiều dài trung bình là 12,74±0,24 mm. Tỷ lệ giới tính (đực: cái) của sâu đục thân Plassey thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Rahman et al. (2013), người đã xác nhận tỷ lệ giới tính là 1:1,42. Khanna et al. (1957) đã ghi nhận sự khác biệt về giới tính ở giai đoạn trưởng thành và lưu ý rằng sải cánh của bướm đực và bướm cái lần lượt nằm trong khoảng 21-26 mm và 28-31 mm. Rahman et al. (2013) ghi nhận thời gian trưởng thành nằm trong khoảng 3-8 ngày. Ông cũng ghi nhận sự khác biệt về giới tính ở dạng trưởng thành, sải cánh của bướm đực và bướm cái lần lượt là 18-30 mm và 25-40 mm. Suasa-Ard (2000) lưu ý rằng giai đoạn trưởng thành là trong vòng 5-7 ngày.

Nghiên cứu về sở thích đẻ trứng của bướm đục thân Plassey cho thấy con cái không đẻ trứng trên bất kỳ bề mặt không sống nào. Con cái chỉ thích đẻ trứng trên cây mía sống và không thích giấy nâu, lá ngô và lá mía khô.

Tóm tắt

Việc đẻ trứng diễn ra theo 3-4 đợt, trung bình mỗi con cái đẻ được 410,64±45,21 trứng:

  • Thời gian ấp trứng là 7,05±0,60 ngày.
  • Tổng cộng có 5 giai đoạn ấu trùng và thời gian của giai đoạn ấu trùng thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm lần lượt là 3,20±0,52, 3,7±0,47, 4,75±0,79, 6,05±0,69 và 6,35±0,67 ngày.
  • Thời gian nhộng của con đực và con cái lần lượt là 7,25±1,21 và 8,1±1,37 ngày
  • Tuổi thọ của con đực và con cái lần lượt là 3,9±0,64 và 4,8±0,77 ngày.

Biện pháp phòng trừ tham khảo

Biện pháp phòng trừ sâu đục thân 4 vạch đầu vàng (và cả sâu đục thân 5 vạch dầu đen)
Biện pháp phòng trừ sâu đục thân 4 vạch đầu vàng (và cả sâu đục thân 5 vạch dầu đen)